Hồ sơ chuyển giá

Hồ sơ chuyển giá

Để thu hút được lượng vốn của nhà đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam. Nhiều năm qua Nhà nước ta thực hiện chính sách ưu đãi về thuế, tài chính. Tỷ trọng đóng góp vào GDP của khối FDI cũng ngày càng cao. Tuy nhiên việc thực hiện nghĩa vụ thuế của một số doanh nghiệp FDI chưa tương xứng với kỳ vọng. Hiện tượng các DN FDI kê khai lỗ khá phổ biến. Chiếm khoảng 50% tổng số DN FDI đang hoạt động trên cả nước. Tìm hiểu thực chất của vấn đề lỗ của DN không hề đơn giản. Nhưng cũng không thể loại trừ hồ sơ chuyển giá trong hoạt động tài chính của các DN này.

Cơ sở dữ liệu sử dụng trong hồ sơ chuyển giá

Hiện nay vẫn chưa tổ chức một cơ quan chuyên trách về việc xác định mức giá thị trường. Vì thế không có căn cứ nào để biết DN FDI có thực hiện hành vi chuyển giá không. Mặt khác, theo quy định cơ quan thuế là nơi tiếp nhận báo cáo tài chính của các DN FDI. Nhưng lại không có chức năng điều tra về thuế. Vì vậy nếu muốn điều tra hồ sơ chuyển giá thì phải phối hợp với công an, hải quan,…

Mặt khác, đứng từ phía DN có giao dịch liên kết với các DN FDI. Hiện Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống dữ liệu chung, công khai. Để các cơ quan thuế và DN cùng tham chiếu để lập hồ sơ chuyển giá. Ngành Công Thương cũng chưa hình thành được các sàn giao dịch hàng hóa lớn. Để căn cứ so sánh giá với các thị trường nước ngoài. Vậy nên việc xác định giá thị trường với các giao dịch liên kết là rất khó khăn.

Hồ sơ chuyển giá

Các hành vi chuyển giá chủ yếu

Kết quả thanh tra đã chỉ ra các hình thức chuyển giá qua hoạt động giao dịch liên kết như:
– Nâng vốn góp bằng việc nâng giá trị máy móc, thiết bị và công nghệ;
– Bán hàng hoá, nguyên vật liệu thấp hơn nhiều so với giá bán cho các bên độc lập;
– Chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp liên kết tại Việt Nam;
– Định giá tiền bản quyền thương hiệu cao so với giá trị thực;
– Các tập đoàn nước ngoài ký hợp đồng với các công ty của các nước với đơn giá cao. Sau đó giao lại cho công ty con tại Việt Nam theo giá do công ty mẹ quy định thấp;…

Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng cho rằng các hồ sơ chuyển giá của DN FDI không chỉ đơn thuần là điều chuyển lợi nhuận từ nơi có thuế suất cao sang nơi có thuế suất thấp hơn để tránh thuế. Mà còn cả chiều ngược lại.

Chuyển giá là gì ?

Chuyển giá được hiểu là việc thực hiện chính sách giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản được chuyển dịch giữa các thành viên trong tập đoàn qua biên giới không theo giá thị trường nhằm tối thiểu hóa số thuế của các công ty đa quốc gia trên toàn cầu.

Bản chất của hoạt động chuyển giá là việc lựa chọn nơi ưu đãi nhất để nộp thuế. Mà không làm trái các qui định pháp luật hiện hành. Như vậy, chuyển giá là một hành vi do các chủ thể kinh doanh thực hiện. Nhằm thay đổi giá trị trao đổi hàng hóa, dịch vụ trong quan hệ với các bên liên kết. Hành vi ấy có đối tượng tác động chính là giá cả.
Giá giao kết là cơ sở để xem xét hành vi chuyển giá. Cơ quan thuế cũng chỉ có thể đánh giá một giao dịch có chuyển giá hay không khi so sánh giá giao kết với giá thị trường. Nếu giá giao kết không tương ứng với giá thị trường thì có nhiều khả năng để kết luận rằng giao dịch này có biểu hiện chuyển giá.

Phạm vi chuyển giá

Hai doanh nghiệp được xem là liên kết khi:
i) Một doanh nghiệp tham gia vào quản lý, điều hành hay góp vốn vào doanh nghiệp kia. Một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc qua trung gian;
ii) Hai doanh nghiệp có cùng một hoặc nhiều người hay những thực thể khác tham gia quản lý, điều hành. Hay góp vốn một cách trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc thông qua trung gian”.

Yếu tố quản lý, điều hành hay góp vốn chính là điều kiện quyết định sự ảnh hưởng, sự giao hòa về mặt lợi ích của các chủ thể này nên cũng là cơ sở để xác định mối quan hệ liên kết. Tính chất của những biểu hiện này không mang tính quyết định. DN liên kết được hình thành trong cùng một quốc gia hoặc có thể ở nhiều quốc gia. Chuyển giá không chỉ diễn ra trong các giao dịch quốc tế mà cả trong những giao dịch quốc nội.

Hồ sơ chuyển giá

Số liệu thực tế

VCCI mới đây đã công bố khảo sát PCI (chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh). Báo cáo PCI nêu rõ, chuyển giá phổ biến nhất trong các ngành có công nghệ độc quyền, sản xuất sản phẩm trong nước không có hàng thay thế nên cơ quan quản lý không có dữ liệu so sánh.

Theo báo cáo này, có đến 20% DN thừa nhận có hành vi nâng giá hàng hóa, dịch vụ nội bộ để giảm lợi nhuận. và càng được hưởng nhiều thuận lợi, kiếm được lợi nhuận lớn thì DN FDI lại càng tìm cách tăng chi phí, giảm lãi để trốn thuế. Dữ liệu PCI cho hay, hơn 65% DN FDI có tỷ suất lợi nhuận trên 20% thực hiện hành vi chuyển giá. Khoảng 44,5% DN có tỷ suất lợi nhuận từ 10-20% thực hiện hành vi này.

Hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam phổ biến nhất với ba nhóm. Sản xuất hàng hóa tiêu thụ nội địa, làm hàng xuất khẩu và gia công hàng hóa xuất khẩu. Trong 3 lĩnh vực này, hầu hết các nhà đầu tư nước ngoài đều có một điểm chung là dùng thủ thuật chuyển giá. Những ngành đầu tư có tỷ lệ DN chuyển giá nhiều nhất gồm. 90% DN kinh doanh lĩnh vực tài chính và bảo hiểm. 70% DN sản xuất dệt may. 51% DN sản xuất linh kiện ô tô…

Một số cách thức trong hồ sơ chuyển giá

Với nhóm DN FDI sản xuất hàng hóa tiêu thụ nội địa, hàng hóa tiêu thụ trong nước rất khó tùy tiện tăng giá so với mặt bằng chung nên họ phải tìm mọi cách để nâng chi phí đầu vào sản xuất. Lỗ hổng để nâng giá dễ nhất là điều chỉnh con số ở thiết bị vật tư, nguyên liệu, định mức tiêu hao vật tư trên một đơn vi sản phẩm, chi phí phân bổ từ công ty mẹ ở nước ngoài. Theo đó, chi phí tăng sẽ kéo giảm lợi nhuận, DN giảm hoặc không có lãi, thậm chí lỗ sẽ giảm và trốn được trách nhiệm nộp thuế thu nhập DN. Cũng dùng thủ thuật nâng chi phí đầu vào, nhóm DN FDI làm hàng xuất khẩu thì dùng thêm “kỹ thuật” ép giá bán sản phẩm xuống tối thiểu.

Với nhóm gia công hàng hóa xuất khẩu, DN FDI vận dụng cả hai hình thức nâng chi phí đầu vào và ép giá đầu ra. Vì nguyên liệu do công ty FDI nhập khẩu vào trong nước có thể được nâng giá, trong khi công ty mẹ ở nước ngoài lại bao tiêu đầu ra nhiều khi với mức ghi trong hợp đồng gia công rất vô lý.

Pháp luật Việt Nam quy định về hồ sơ chuyển giá

Theo Điều 7 của Nghị định số 20/2017/NĐ-CP đã đưa ra 5 phương pháp định giá chuyển giao. Đó là:
+ Phương pháp so sánh giá giao dịch liên kết với giá giao dịch độc lập.
+ Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận gộp trên doanh thu (phương pháp giá bán lại).
+ Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận gộp trên giá vốn (phương pháp giá vốn cộng lãi).
+ Phương pháp so sánh tỷ suất lợi nhuận thuần (chưa trừ chi phí lãi vay và thuế thu nhập doanh nghiệp) trên doanh thu, chi phí hoặc tài sản.
+ Phương pháp phân bổ lợi nhuận giữa các bên liên kết.

Nghĩa vụ và cưỡng chế

Trao nghĩa vụ kê khai các giao dịch liên kết cho đối tượng nộp thuế vừa giảm thiểu chi phí quản lý, vừa tăng quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm với hồ sơ chuyển giá mà đối tượng nộp thuế cung cấp. Điều này được xem là phù hợp với xu thế quản lý thuế hiện đại (tự kê khai, tự nộp). Bởi lẽ khi ấy, đối tượng nộp thuế sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý nếu không đảm bảo chứng minh đầy đủ hồ sơ chuyển giá.

Các biện pháp cưỡng chế cũng được áp dụng nhằm đảm bảo tuân thủ kê khai đúng đắn các giao dịch liên kết. Trước hết, đó là quy định về quyền của cơ quan thuế được ấn định mức giá sử dụng để kê khai tính thuế hoặc ấn định thu nhập chịu thuế hay số thuế thu nhập phải nộp. Việc ấn định dựa trên cơ sở dữ liệu của cơ quan thuế phù hợp quy định về ấn định thuế hoặc theo giá trị không thấp hơn giá trị trung bình của biên độ giá thị trường chuẩn được cơ quan thuế ấn định.

APA là gì? (advance pricing agreement – thỏa thuận xác định giá trước)

Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “APA là thoả thuận giữa người nộp thuế và cơ quan thuế về một hệ thống các tiêu chí như: phương pháp xác định giá thị trường, các công ty độc lập để so sánh, các điều chỉnh cần thiết và các giả định mang tính chất quan trọng liên quan đến điều kiện kinh doanh trong tương lai nhằm mục đích xác định trước giá chuyển giao cho các giao dịch nhất định trong một khoảng thời gian xác định.

Bản chất của APA là cam kết thực hiện giao dịch theo những phương thức đã được tiên liệu trước. Và được cơ quan quản lý nhà nước về thuế chấp thuận. Và giá thỏa thuận trong APA chỉ có ý nghĩa để tính thuế chứ không có giá trị ràng buộc giữa người bán và người mua. Không liên quan đến giá của hai bên thỏa thuận trong hợp đồng mua bán.

Đặc điểm của APA

APA là thỏa thuận tự nguyện giữa các bên, không bắt buộc của cơ quan thuế với người nộp thuế. APA có hiệu lực với các bên tham gia.
– APA áp dụng cho những giao dịch xác định trong tương lai với một khoảng thời gian nhất định. (thường không quá 5 năm).
– APA là một thoả thuận xác định trước một nhóm chỉ tiêu phù hợp. Để xác định giá chuyển nhượng cho các giao dịch nhất định. Trước khi thực hiện các giao dịch đó trong một thời kỳ nhất định.

– Sự hợp tác của người nộp thuế là yếu tố quan trọng để tạo thành công trong đàm phán APA. Khi APA được ký kết, sẽ không cần điều chỉnh giá chuyển nhượng. Nếu đối tượng nộp thuế tuân theo các điều khoản của thoả thuận.
– Các thông tin mà người nộp thuế báo cáo cho cơ quan thuế phải được bảo mật. Cơ quan thuế nên đảm bảo tính bảo mật của những thông tin và tài liệu nhạy cảm. Được nộp trong quá trình thực hiện APA.

Một số trở ngại khi áp dụng APA tại Việt Nam

Về đội ngũ nguồn nhân lực cơ quan thuế: APA là một thỏa thuận rất phức tạp nên đòi hỏi khả năng chuyên môn cao của cán bộ thuế, chưa kể cần thiết phải có các chuyên gia trong các lĩnh vực đặc thù.
– Vấn đề nguồn kinh phí để thực hiện APA: Với các nội dung thỏa thuận của mình chi phí để thực hiện tìm hiểu, ký kết hoạt thuận cũng như quản lý, theo dõi APA sẽ không nhỏ.

– Vấn đề nữa là vấn đề bảo mật thông tin. Thông tin để xây dựng APA là cơ sở để xây dựng và đưa ra được mức giá thị trường cho những giao dịch trong tương lai. Hay nói cách khác đây là thông tin liên quan đến chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Nhưng liệu với cơ chế quản lý hiện nay cơ quan thuế có đảm bảo cho việc bảo mật hoàn toàn các thông tin kê khai của DN không?.

Nguồn: Cổng thông tin điện tử – Bộ tư pháp