QUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG DÔI DƯ KHI SẮP XẾP LẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU (tt)

QUY ĐỊNH CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG DÔI DƯ KHI SẮP XẾP LẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN DO NHÀ NƯỚC LÀM CHỦ SỞ HỮU (tt)

Thời gian làm việc để làm căn cứ tính chế độ

1. Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, khoản tiền hỗ trợ quy định
tại các Khoản 4, 5 Điều 3 và Điều 4 Nghị định này là tổng thời gian người lao động đã làm việc
thực tế (có đi làm, có tên trong bảng thanh toán tiền lương) tại công ty thực hiện sắp xếp lại trừ
đi thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp
và thời gian đã được công ty thực hiện sắp xếp lại chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm
(nếu có).
2. Trường hợp người lao động chuyển đến làm việc tại công ty thực hiện sắp xếp lại trước ngày
01 tháng 01 năm 1995 thì thời gian để tính trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, khoản tiền hỗ
trợ quy định tại các Khoản 4, 5 Điều 3 và Điều 4 Nghị định này bao gồm thời gian làm việc để
tính trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, khoản tiền hỗ trợ quy định tại Khoản 1 Điều này và
thời gian người lao động làm việc thực tế trong khu vực nhà nước trước đó (cơ quan hành chính
nhà nước, đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang hưởng lương từ ngân
sách nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, nông, lâm trường quốc doanh).
3. Thời gian làm việc để tính chế độ quy định tại Điểm c Khoản 1, Điểm b Khoản 2, Khoản 4,
Khoản 5 Điều 3 và Điều 4 Nghị định này được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng
lẻ thì từ dưới 01 tháng không được tính; từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2
năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.