VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ MUA BÁN NỢ

VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH DỊCH VỤ MUA BÁN NỢ

Phạm vi điều chỉnh

1. Nghị định này quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ trên phạm vi lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
2. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy
định của Luật các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan.
3. Tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động mua bán trái phiếu thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật
chứng khoán thực hiện theo quy định của Luật chứng khoán.
4. Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam thực hiện hoạt động mua bán nợ
theo quy định của Chính phủ về thành lập, tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của
các tổ chức tín dụng Việt Nam.

5. Công ty trách nhiệm hữu hạn mua bán nợ Việt Nam thực hiện hoạt động mua bán nợ theo quy
định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về thành lập và hoạt động của Công ty trách nhiệm
hữu hạn mua bán nợ Việt Nam.
6. Sở giao dịch chứng khoán tổ chức thị trường giao dịch chứng khoán theo quy định của Luật
chứng khoán.
7. Tổ chức, cá nhân (trừ các tổ chức, cá nhân quy định tại khoản 2, khoản 3, khoản 4, khoản 5,
khoản 6 Điều này) hoạt động mua bán nợ không phải là hoạt động kinh doanh thực hiện theo quy
định của Bộ luật dân sự.
Đối tượng áp dụng
1. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.
2. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ.

Nguyên tắc kinh doanh dịch vụ mua bán nợ
1. Tổ chức (không phải là doanh nghiệp), cá nhân có nhu cầu kinh doanh dịch vụ mua bán nợ
phải thành lập doanh nghiệp.
2. Doanh nghiệp phải đăng ký ngành nghề kinh doanh dịch vụ mua bán nợ theo quy định của
pháp luật.
3. Doanh nghiệp thực hiện kinh doanh dịch vụ mua bán nợ phải đáp ứng điều kiện tương ứng
quy định tại Điều 5, Điều 6, Điều 7 và Điều 8 Nghị định này.
4. Bảo đảm công khai, minh bạch, bình đẳng, tuân thủ quy định của pháp luật.